Khám bệnh từ 6h30 - 20h tất cả các ngày không nghỉ! 0292 6 292 666 0292 6 500 666 TƯ VẤN VÀ ĐẶT LỊCH HẸN
Phân Tích Nước Tiểu

Phân Tích Nước Tiểu

Sự hình thành nước tiểu Nước tiểu được hình thành liên tục từ thận.Nó là sản phẩm dịch lọc của huyết tương từ đường,aminoacid, nước và các chất khác, chủ yếu nhờ sự chuyển hóa của cơ thể được tái hấp thu lại.Quá trình sinh lý tạo nước tiểu tại thận rất phức tạp, mỗi ngày trung bình có khoảng 170000ml dịch lọc huyết tương chuyển thành 1200ml nước tiểu.

Nước tiểu được hình thành tại hai thận, đó là hai cơ quan nằm ngoài khoang phúc mạc cạnh cột sống, bên dưới lồng ngực và trước cột sống thắt lưng. Thận cùng với hệ da và hệ hô hấp là những cơ quan bài tiết chính của cơ thể. Mỗi thận được xem là là cơ quan cao cấp để duy trì môi trường bên trong của cơ thể, nhờ vào sự bài tiết và hấp thu chọn lọc nhiều chất khác nhau theo nhu cầu cần thiết chuyên biệt của cơ thể.

phan-tich-nuoc-tieu-1 Đơn vị chức năng chính của thận là nephron. Mỗi thận có khoảng 1-1,5 triệu nephron, mỗi nephron được cấu tạo bởi hai phần chính gồm cầu thận là hệ thống lọc và ống thận là nơi mà dịch lọc đi qua. Mỗi cầu thận được cấu tạo bởi mạng lưới mao mạch và được bao bọc bởi màng gọi là nang bowman và tiếp theo là ống thận.Khả năng bài tiết một cách chọn lọc các chất thải từ màu, để duy trì sự cân bằng nước và điện giải trong cơ thể, được kiểm soát trong cầu thận, nhờ vào sự bài tiết và tái hấp thu của ống thận, độ lọc cầu thận và dòng máu đến thận.

Máu cung cấp cho thận từ động mạch thận và vào nephron qua tiểu động mạch đến.Máu chảy vào cầu thận và vào trong tiểu động mạch đi. Kích thước khác nhau của hai tiểu động mạch này nhằm tạo ra sự khác biệt về áp lực thủy tĩnh cần thiết cho độ lọc cầu thận và đáp ứng mục đích duy trì áp lực mao mạch cầu thận và ổn định dòng máu bên trong cầu thận( Sự nhỏ hơn về kích thước của tiểu động mạch đi nhằm tăng áp lực cầu thận giúp hình thành nước tiểu)

Khi dịch lọc đi qua ống thận thì lượng chất hòa tan được tăng thêm từ các chất bài tiết của máu mao mạch và từ sự bài tiêt của tế bào biểu mô ống thận. Các chất tan quan trọng và nước vào lại trong dòng máu qua cơ chế tái hấp thu của ống thận. Cuối cùng sự cô đặc và pha loãng nước tiểu xảy ra tại tủy thận.Thận có khả năng đáng chú ý về sự pha loãng và cô đặc nước tiểu theo nhu cầu cần thiết của mỗi cá nhân, và để điều hòa sự bài tiết natri. Sinh hóa máu, huyết áp, cân bằng dịch, dinh dưỡng, và tình trạng sức khỏe là yếu tố then chốt trong toàn bộ quá trình chuyển hóa của cơ thể.

Cấu tạo nước tiểu Thông thường, nước tiểu bao gồm ure và các hóa chất vô cơ, hữu cơ hòa tan trong nước.Phần lớn sự biến đổi nồng độ các chất này xảy ra khi chịu ảnh hưởng của các yếu tố về chế độ ăn, hoạt động sinh lý, sự chuyển hóa của cơ thể, chức năng nội tiết và kể cả tư thế.

phan-tich-nuoc-tieu-2

Ure, một phế phẩm chuyển hóa tạo ra tại gan nhờ quá trình phân hủy protein và amino acid, chiếm hầu như một nữa lượng chất rắn hòa tan trong nước tiểu. Một vài chất hữu cơ khác chủ yếu bao gồm creatinin và acid uric. Chất vô cơ chính hòa tan trong nước là chloride, tiếp theo là ion kali và natri. Một lượng nhỏ các hóa chất vô cơ cũng hiện diện trong nước tiểu. Nồng độ các hợp chất vô cơ này phần lớn bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn, nên làm khó khăn để xác định được nồng độ bình thường của chúng.Những chất khác có thể tìm thấy trong nước tiểu bao gồm hormone, vitamin và thuốc.

Mặc dù, chúng không có nguồn gốc từ dịch lọc huyết tương, nhưng nước tiểu cũng chứa các phân tử hữu hình như tế bào, trụ tế bào, tinh thể, dịch nhầy và vi khuẩn.Sự gia tăng số lượng các phân tử hữu hình này được coi là bệnh lý.

Mẩu xét nghiệm nước tiểu Suốt 24 giờ, cấu tạo và sự cô đặc nước tiểu thay đổi liên tục. Sự cô đặc nước tiểu thay đổi theo lượng nước nhập và các hoạt động trước khi làm xét nghiệm. Để thu được một mẩu xét nghiệm nước tiểu biểu hiện thực sự tình trạng chuyển hóa của cơ thể, thông thường cần thực hiện tốt các yêu cầu của việc thu thập mẩu nước tiểu như là thời điểm thu thập, khoảng thời gian thu thập, phương pháp thu thập, chế độ ăn và thuốc đang sử dụng của bệnh nhân.

Xét nghiệm nước tiểu Tổng phân tích nước tiểu là một xét nghiệm thường qui cho bệnh nhân nhập viện hoặc bệnh nhân đến khám. Nó là một chỉ định hữu ích cho sức khỏe của bệnh nhân. Hai nét đặc trưng của tổng phân tích nước tiểu bao gồm:

1. Nước tiểu là mẩu xét nghiệm có sẳn và dể thu thập

2. Nước tiểu chứa nhiều thông tin về chức năng chuyển hóa chủ yếu của cơ thể và thông tin này có được từ một xét nghiệm nước tiểu đơn giản.

Những nét đặc trưng này phù hợp tốt với xu hướng y học dự phòng và chi phí thấp cho xét nghiệm. Bởi vì chi phí không mắc để xét nghiệm một số lượng lớn bệnh nhân, không chỉ xét ngiệm cho bệnh thận mà còn cho những tình trạng bệnh lý còn nhẹ chưa biểu hiện triệu chứng như là bệnh tiểu đường và bệnh gan, bởi vậy tổng phân tích nước tiểu là một xét nghiệm có giá trị để tầm soát sự chuyển hóa của cơ thể.Trong mẩu xét nghiệm nước tiểu nên đánh giá nồng độ creatinin và ure. Bởi vì, hai chất này trong nước tiểu có nồng độ cao hơn các chất dịch khác của cơ thể.

1. Xét nghiệm cận lâm sàng để phân tích mẩu nước tiểu

Đầu tiên, nét đặc trưng sinh lý của nước tiểu được lưu ý và ghi nhận. Thứ hai, một loạt xét nghiệm hóa học được thực hiện. Một que thấm có bản chất hóa học được sử dụng cho những xét nghiệm này. Kết quả chuẩn hóa đạt được nhờ quá trình nhúng que thử vào nước tiểu.Thứ ba, cặn nước tiểu được soi dưới kính hiển vi. Mặc dù có những điều kiện thuận lợi tại phòng thí nghiệm nhưng vẫn cho phép xét nghiệm nước tiểu trong một phạm vi rộng, một vài loại xét nước tiểu bằng viên, dây và que được thực hiện ngoài phòng xét nghiệm. Chúng được thực hiện và đọc trực tiếp dể dàng bởi bệnh nhân và nhân viên y tế.

phan-tich-nuoc-tieu-3 Que nhúng thể hiện kết quả qua màu sắc trên giấy thấm được gắn trên que. Những thuốc thử có bản chất hóa học cung cấp nhanh đánh giá định tính về độ pH, protein, glucose, ketone, bilirubin, hemoglobin( máu), nitrite, men bạch cầu, urobilinogen, và tỷ trọng nước tiểu. Phản ứng hóa học trên que nhúng với các chất chuyên biệt trong nước tiểu tạo ra tập hợp các máu sắc có thể nhìn thấy được. Độ đậm của màu sắc tạo ra lien quan đến nồng độ các chất phản ứng trong nước tiểu.

Phương pháp – Dùng mẩu nước tiểu tươi ( mới lấy trong vòng một giờ hoặc mảu được ướp lạnh)

– Đọc hoặc xem xét lại hướng dẫn sử dụng chất hóa học. Kiểm tra định kỳ những thay đổi trong phương thức xét nghiệm.

– Nhúng que vào mẩu nước tiểu đã được lắc đều, sau đó lấy que ra và so sánh màu sắc mỗi vùng thuốc thử hiện diện trên que với bản đồ màu sắc tương ứng được thiết lập sẵn.

Những yếu tố ảnh hưởng đến xét nghiệm

– Nếu để que nhúng trong nước tiểu quá lâu, những giấy thấm có bản chất hóa học trên que có thể bị tan rã nên cho kết quả đọc và giá trị thiếu chính xác.

– Nếu các miếng giấy thuốc thử trên que bị trộn lẫn vào nhau sẽ cho kết quả không chính xác.Vì vậy, cần hút sạch nước tiểu còn dính lại trên mẩu giấy thấm của que.

phan-tich-nuoc-tieu-4

Ngoài chi phí được quy định trong quy trình khám, nếu bệnh nhân làm thêm bất cứ công đoạn nào khác phục vụ khám bệnh sẽ được bác sĩ tư vấn rõ ràng về chi phí. PHÒNG KHÁM ĐA KHOA HOÀNG KIM luôn đặt quyền lợi của người bệnh lên hàng đầu. Mọi thắc mắc bạn hãy liên hệ theo số điện thoại: 0710 6 292 666 – 0710 6 500 666 để được hỗ trợ tư vấn.

Nếu còn thắc mắc về bệnh lý này hay một số bệnh lý khác, bạn hãy nhấp chuột chọn mục tư vấn để được hỗ trợ nhanh nhất.

chat